Danh Y Tuệ Tĩnh có tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, là người làng Nghĩa Phú, huyện Cẩm Giàng (tỉnh Hải Dương). Ông được mệnh danh là ông tổ của nền Y dược cổ truyền Việt Nam. Các bộ sách như: Nam Dược thần hiệu, Hồng Nghĩa tư giác y thư của ông có ý nghĩa vô cùng trọng trong lịch sử y học nói chung và trong lịch sử văn học Việt Nam nói riêng.
.jpg)
Năm ông 55 tuổi (1385) thì bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn hành nghề thuốc, nổi tiếng và được vua Minh phong là Đại y Thiền sư rồi mất ở đó và không rõ năm nào. Danh Y Tuệ Tính đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách giá trị có tên là bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Đặc biệt, ông có bộ Hồng Nghĩa tư giác y thư (2 quyển) được biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam được viết bằng thơ Đường luật (nôm), và bài Phú thuốc Nam 630 vị cũng dùng quốc ngữ. Không quá để nói rằng ông chính là ông tổ của nền Y học cổ truyền Việt Nam.
2. Danh y Lê Hữu Trác – Hải Thượng Lãn Ông
Hải Thượng Lãn Ông tên thật là Lê Hữu Trác sinh năm (1720 – 1791) ở thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Ông lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học có ông nội và các chú bác đều đỗ Tiến sĩ và làm quan trong triều. Thân sinh của danh y từng đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ và giữ chức vụ Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông.
.jpg)
3. Giáo sư Hồ Đắc Di
Giáo sư Hồ Đắc Di sinh năm 1900, mất năm 1984. Ông sang Pháp du học (1918-1932) và đỗ làm bác sĩ nội trú. Ở đây Hồ Đắc Di đảm nhiệm việc làm phẫu thuật một thời gian ở bệnh viện Tenon, rồi về nước. …
.jpg)
Theo sử sách của ngành Y Việt Nam ghi nhận, với 21 công trình hiện tìm được trong 37 công trình đã công bố, Hồ Đắc Di là nhà phẫu thuật đầu tiên, xứng đáng được hội đồng giáo sư (toàn người Pháp) đánh giá cao và được bầu chọn là giáo sư người Việt Nam đầu tiên.
Ông là Đại biểu Quốc hội từ khóa 2 đến khóa 5, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội các khóa 2, khóa 3, khóa 4, giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường đại học Y Hà Nội, Giám đốc Vụ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng giám đốc Đại học vụ Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt-Pháp, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và hai hạng ba, Huân chương Lao Động hạng nhất và hạng hai, Chiến sĩ thi đua toàn quốc nǎm 1952 và 1956, Huy chương Vì thế hệ trẻ. Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 25-6-1984.
4. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch
Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (1909- 1968), sinh thành tại Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Năm 1928, ông là thi đỗ và trở thành Trường đại học Y khoa Hà Nội. Năm 1934, tốt nghiệp Bác sĩ y khoa tại Pháp. Sau hai năm, ông trở về Sài Gòn, mở phòng khám và bệnh viện tư chuyên chữa bệnh lao và bệnh phổi.
.jpg)
Tiến sĩ y khoa Phạm Ngọc Thạch cũng là Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tiên của nước Việt Nam độc lập (Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (9/1945 – 1/1946). Từ năm 1954, ông giữ rất nhiều chức vụ khác nhau như: Thứ trưởng, Bí thư Đảng Đoàn (1954-1958), Bộ trưởng Bộ Y tế (1958-1968). Ông đã thành công xây dựng một nền y tế nhân dân ở miền Bắc. Đặc biệt, ông là người đầu tiên áp dụng khoa học kỹ thuật phương tây vào nền y học Việt Nam lúc bấy giờ.
Là người sáng lập nên Viện Chống lao Trung ương, người đặt nền móng cho hình thành chuyên khoa lao và các bệnh phổi ở Việt Nam. Năm 1996 ông đã được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
Năm 1958 ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động đầu tiên của ngành Y tế –, tại Đại hội liên hoan Anh hùng Chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ nhất.
Năm 1997 ông được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh vì các cống hiến to lơn trong lĩnh vực khoa học.
5. Giáo sư Đặng Văn Ngữ
Giáo sư Đặng Văn Ngữ (1910) quê ở làng An Cựu, ngoại thành kinh đô Huế. Ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa vào năm 1937, tại trường Đại học Y khoa Hà Nội. Sau đó, ông làm trợ lý cho giáo sư bác sĩ người Pháp tên Henry Galliard chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng trường Đại học Y khoa Đông Dương (tiền thân của trường Đại học Y Hà Nội).
.jpg)
Năm ngày 1 tháng 4 năm 1967, ông đã mất trong một trận Mỹ ném bom B52, tại một địa điểm trên dãy Trường Sơn thuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế, khi đang nghiên cứu căn bệnh sốt rét. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt một về lĩnh vực Y học.
6. Giáo sư Tôn Thất Tùng
Giáo sư Tôn Thất Tùng (1912 -1982), sinh ở quê hương Thanh Hóa và lớn lên ở Huế. Năm 1932, ông học tại trường Y- Dược, đến năm 1935 ông cùng 10 sinh viên khác được tuyển làm ngoại trú tại Bệnh viện Phủ Doãn. Năm đó ông là người duy nhất được nhận vào làm việc tại khoa ngoại của trường Y-Dược, hiện nay là bệnh viện Việt – Đức.
.jpg)
Năm 1960, ông đã thành công nghiên cứu ra phương pháp “cắt gan có kế hoạch”. Để ghi nhận công lao của Tôn Thất Tùng – người đầu tiên đã tìm ra phương pháp cắt gan này, mọi người gọi là “Phương pháp mổ gan khô” hay “Phương pháp Tôn Thất Tùng”.
Cách mạng tháng Tám thành công, Tôn Thất Tùng là một trong những trí thức đầu tiên tận tâm, nhiệt tình, dành hết tâm huyết để xây dựng Trường Đại học Y khoa của nước Việt Nam DCCH.
Năm 1947, ông được Chính phủ cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế. Từ sau ngày hòa bình lập lại, ông được cử làm Giám đốc bệnh viện hữu nghị Việt – Đức, chủ nhiệm bộ môn Ngoại trường Đại học Y khoa Hà Nội.
Năm 1958, ông đã thành công tiến hành ca mổ tim đầu tiên ở Việt Nam. Năm 1959, tiếp tục phát triển khoa mổ sọ não và khoa ngoại nhi. Năm 1960, Giá Sư là người đầu tiên đề xuất và áp dụng có kết quả xuất sắc về việc mổ gan bằng phương pháp Việt Nam. Năm 1965, GS thành công triển khai việc mổ tim bằng máy tim phổi nhân tạo ở nước ta.
Năm 1977, ông được Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris trao tặng Huy chương phẫu thuật quốc tế mang tên Lannelongue. Đây là phần thưởng dành cho những nhà phẫu thuật xuất sắc thế giới được trao định kỳ 5 năm một lần. Ông rất vinh dự và xứng đáng là một trong 12 người trên thế giới và là người duy nhất ở Việt Nam được tặng huy chương ấy cao quý ấy.
Với những công lao và cống hiến to lớn đối với nước nhà, GS. Tôn Thất Tùng đã được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương chiến sĩ hạng Nhất, hai lần Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Ba và được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
7. Giáo sư Đặng Văn Chung
Gíao sư Đặng Văn Chung (1913) sinh tại Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Năm 1933, ông đã thi đỗ vào Trường đại học Y Dược khoa Đông Dương; năm 1937, ông tiếp tục thi đỗ trong kỳ thi tuyển bác sĩ nội trú làm việc tại Bệnh viện Bạch Mai. Đến ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19/12/1946), ông đã lên chiến khu cùng GS. Hồ Đắc Di để xây dựng Trường Y giữa núi rừng Việt Bắc.
.jpg)
Lúc sinh thời, GS. Đặng Văn Chung đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Ngày 24/2/1999 GS. Đặng Văn Chung đã qua đời vì bệnh nan y, để lại niềm tiếc thương khôn nguôi cho gia đình, các thế hệ học trò và người bệnh.Năm 2000, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Quyết định số 392 KT/CTN truy tặng GS. Đặng Văn Chung Giải thưởng Hồ Chí Minh về “Cụm công trình nghiên cứu nội khoa”.